Rảo bước ngắm nghía những nét độc đáo trong Nghệ thuật trình diễn Khmer Nam Bộ
- Thiên Ân Trịnh Mai
- 24 thg 3, 2024
- 4 phút đọc
Khmer, dân tộc anh em với dân số lớn thứ 2 sau Kinh tại miền Nam Việt Nam, sở hữu một nền văn hóa vô cùng phong phú và đặc sắc. Nổi bật trong đó là nghệ thuật trình diễn truyền thống, ẩn chứa sức hút khó cưỡng đối với những ai yêu mến văn hóa các dân tộc.

Chắc hẳn bạn đã từng một lần nghe đến nghệ thuật Sân khấu Dù Kê? Đây là một loại hình nghệ thuật độc đáo, ra đời từ thập niên 20 của thế kỷ XX, là điểm nhấn ấn tượng trong kho tàng nghệ thuật Khmer ở Nam Bộ. Nét đặc biệt của Dù Kê là sự giao thoa hài hòa giữa các loại hình nghệ thuật của nhiều dân tộc như Rô băm, Dì kê, hát Tiều, Quảng, Bội, Cải lương,... tạo nên một sân khấu đa dạng, đầy màu sắc.
Bên cạnh Dù Kê, kịch múa Rô băm - loại hình nghệ thuật cổ điển với tuổi đời gần ba thế kỷ - vẫn được lưu giữ và phát huy trong cộng đồng Khmer Nam Bộ. Rô-băm lấy cảm hứng từ Riêm-kê và văn học dân gian Khmer, có nhiều nhân vật đặc sắc và cốt truyện luôn hướng đến cái thiện thắng cái ác.
Nét đẹp văn hóa Khmer còn được thể hiện qua các điệu múa dân gian rộn ràng, tươi vui như Rom vong, Saravan, Sarikakeo, Rom leo, múa Rom Kbách (múa kiểu cổ điển Khmer), Múa Trống Chhay dăm. Mỗi điệu múa ẩn chứa những ý nghĩa riêng biệt, thể hiện niềm vui cuộc sống, lòng thành kính với thần linh và tinh thần đoàn kết cộng đồng.
Dàn nhạc đóng vai trò quan trọng trong nghệ thuật trình diễn Khmer, tạo nền tảng cho các điệu múa, hát, hay trình diễn sân khấu. Với 9 tổ chức dàn nhạc khác nhau như Khmer, Môhôri, dàn nhạc lễ cưới, Pưn Peat (Ngũ âm), A - Răk, Khlon Khech, LaKhône Bassăk (Dù Kê), Trống Lớn (Skô - Thum), Rôbăm, mỗi dàn nhạc mang những đặc trưng riêng, gắn liền với tín ngưỡng và tôn giáo của người Khmer Nam Bộ.

Nghệ thuật sân khấu Khmer Nam Bộ gồm 2 loại hình:
Nghệ thuật sân khấu kịch múa Rô băm: Là một loại hình nghệ thuật sân khấu cổ điển, ra đời cách nay gần ba thế kỷ, bao gồm: múa, hát, nói, kịch câm, vũ đạo, âm nhạc… với vai trò chủ đạo là nghệ thuật múa.
Nghệ thuật sân khấu Dù kê ( Lakhône Bassăk ): Là một loại hình sân khấu ca kịch dân tộc mới ra đời tại vùng ĐBSCL vào khoảng thập niên 20 của thế kỷ XX. Dù kê là một loại hình nghệ thuật tổng hợp, trong đó chứa đựng các yếu tố của nghệ thuật sân khấu Rô băm, Dì kê, hát Tiều, hát Quảng, hát Bội, Cải lương …ảnh hưởng qua quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa.
Thể loại hát:
Dân ca (Boat Chriêng): Phản ánh đời sống tinh thần phong phú, đa dạng của người Khmer, thể hiện tình yêu quê hương, đất nước, con người, lao động và các giá trị văn hóa truyền thống. Bao gồm hò, hát ngành nghề, hát trong phong tục và nghi lễ, hát sinh hoạt, hát đồng dao, hát múa Aday đối đáp và ca diễn Chomriêng Chapây.
Giáo huấn ca (đọc, tụng): lối ngâm ngợi các “chbăp” (luật lệ) của người Khmer từ trong xã hội cổ truyền. Được bắt nguồn từ kho tàng “ Sôphia Sêch”, tức là những câu châm ngôn, tục ngữ nêu lên điều hay lẽ phải, một lời khuyên răn nhắn nhủ con người về cách ứng xử ở đời.

Tổ chức dàn nhạc gồm 9 loại:
Dàn nhạc Khmer: hoà tấu làm nền cho hát trong các lễ Tôn giáo và tín ngưỡng như: Lễ mời thần A - Reak, Neak Ta, đôi lúc sử dụng trong lễ cưới.
Dàn nhạc Môhôri: là dàn nhạc tổng hợp được sử dụng trong các loại âm nhạc dân gian.
Dàn nhạc Pưn Peat (Ngũ âm): “Ngũ âm” đề cập tới năm loại chất liệu khác nhau tạo thành âm thanh tổng hợp. Năm loại chất liệu đó là: đồng, sắt, gỗ, da, hơi.
Dàn nhạc lễ cưới (dàn nhạc truyền thống): chuyên phục vụ lễ cưới người Khmer.
Dàn nhạc A - Răk: dàn nhạc đặc trưng cho lễ cúng thần (cầu thần mưa, thần gió,…).
Dàn nhạc Khlon Khech: dàn nhạc đặc trưng dùng để phục vụ cho lễ tang và đưa tang.
Dàn nhạc LaKhône Bassăk: LaKhône Bassăk còn gọi là nghệ thuật sân khấu Dù Kê
Dàn nhạc Trống Lớn (Skô - Thum): dàn nhạc đặc trưng phục vụ cho lễ tang, nhưng không được phổ biến.
Dàn nhạc Rôbăm: dàn nhạc đặc trưng chỉ sử dụng trong nghệ thuật sân khấu Rôbăm của dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng và một vài tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
Nghệ thuật múa:
Múa dân gian: Nhịp điệu là nhanh, tươi vui, rộn ràng rất phổ biến trong quần chúng nhân dân, như các điệu múa: Rom vong, Saravan, Sarikakeo, Rom leo, múa Rom Kbách ( múa kiểu cổ điển Khmer ), Múa Trống Chhay dăm.
Ngôn ngữ múa trong nghệ thuật sân khấu Rô băm và Dù kê lại mang tính chất cung đình và nặng về thế tạo hình.
Ngoài ra, còn có các điệu múa thiêng trong phong tục tập quán, nghi lễ dân gian truyền thống như: múa cúng thần Arăk, cúng Neak ta, múa trong lễ cưới, lễ tang.
Sau khi đã tìm hiểu nét đặc sắc của nghệ thuật trình diễn người Khmer Nam Bộ, ở bài viết tiếp theo, chúng mình sẽ cùng tìm hiểu về thực trạng bảo tồn để xem: “Liệu nét dẹp văn hoá Khmer này có đang được bảo vệ hay dần mai một theo năm tháng?”.
Nguồn thông tin: Báo dân tộc, Sách nhạc khí dân tộc Khmer Nam Bộ, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.




Bình luận